Cùng tăng gấp đôi, số năm làm kết quả khác nhau
Ví dụ giả định, không góp hoặc rút giữa kỳ: từ 100 triệu lên 200 triệu trong 5 năm cho CAGR khoảng 14,87%/năm. Đổi thời gian thành 10 năm, kết quả còn khoảng 7,18%/năm. Tổng mức tăng vẫn là 100%, nhưng tốc độ ghép lãi khác nhau.
Một phép thử sai cần nhận ra: đầu kỳ có 100 triệu, cuối kỳ góp thêm 100 triệu rồi tài khoản thành 200 triệu dù đầu tư chưa sinh lời. Nhập hai mốc ấy vẫn cho kết quả tăng trưởng dương, vì máy tính không biết phần tiền nộp thêm. Để đo hiệu quả thực tế, cần lịch nộp/rút và phương pháp lợi suất phù hợp; công cụ lãi kép chỉ mô phỏng kế hoạch, không thay phép đo này.
Khi tính CAGR của EPS hoặc BVPS, hãy dùng cùng phạm vi và điều chỉnh sự kiện cổ phiếu nhất quán. Không suy từ CAGR lợi nhuận toàn doanh nghiệp sang tăng trưởng trên mỗi cổ phần khi số cổ phiếu đã thay đổi.
Công thức
CAGR dùng căn bậc n, không dùng phép chia đơn giản
CAGR = (Giá trị cuối / Giá trị đầu)^(1 / Số năm) − 1
FINRA dùng cùng công thức annualized return để so sánh hiệu quả của các khoản đầu tư có thời gian nắm giữ khác nhau. Máy tính này tách thêm phép chia đơn giản để bạn thấy chênh lệch do ghép lãi.
Đối chiếu phương pháp FINRA ↗Ba giới hạn cần ghi bên cạnh CAGR
01
Không cho biết đường đi và mức sụt giảm giữa kỳ
02
Không tự cộng cổ tức, phí hoặc thuế
03
Không tách hiệu quả đầu tư khỏi tiền góp thêm
Câu hỏi thường gặp
CAGR có phải lợi suất thực tế của từng năm không?
Không. CAGR là một tốc độ tăng cố định giả định để nối giá trị đầu kỳ với cuối kỳ. Kết quả thực tế từng năm có thể biến động rất khác.
Có dùng CAGR khi góp thêm tiền giữa kỳ không?
Không nên dùng phép tính hai mốc này. Dòng tiền nộp/rút giữa kỳ cần phương pháp theo thời gian hoặc theo dòng tiền để tránh gán tăng trưởng do góp vốn thành hiệu quả đầu tư.
Vì sao không lấy tổng lợi suất chia cho số năm?
Phép chia đơn giản bỏ qua tác động lãi kép. CAGR dùng căn bậc theo số năm nên phản ánh đúng tốc độ ghép lãi từ giá trị đầu tới giá trị cuối.