Lãi suất tăng: Có nên mua cổ phiếu ngân hàng?
MBB và TCB đều tăng lợi nhuận bán niên. Đối chiếu nguồn tăng trưởng, EPS và P/B để phân biệt mức giá thấp hơn với một cơ hội có đủ căn cứ.
Mục lụcTrong bài này
Khi lãi suất tăng, có thể cân nhắc cổ phiếu ngân hàng nếu lợi nhuận cho cổ đông còn vững, rủi ro tín dụng trong tầm kiểm soát và mức giá đủ bù cho triển vọng thận trọng. Kết quả bán niên của MBB và TCB cho phép kiểm tra hai điều đầu tiên theo từng phần; kết luận về định giá còn cần xử lý đúng sự kiện vốn.
Bài dùng BCTC hợp nhất 6T/2026, số so sánh 6T/2025 và giá đóng cửa ngày 18/09/2026. Đây là hai trường hợp nghiên cứu, không đại diện toàn ngành. Câu hỏi “lãi suất tăng” được đặt có điều kiện; dữ liệu bán niên không chứng minh tác động của diễn biến lãi suất trong tháng 7–9.
Lãi suất đi vào lợi nhuận ngân hàng như thế nào?
Ngân hàng chịu tác động từ cả giá vốn huy động và lợi suất tài sản sinh lãi. Tiền gửi đáo hạn có thể được tái tục với lãi suất cao hơn, trong khi khoản vay chưa đến kỳ điều chỉnh lãi. Nếu chi phí tăng trước thu nhập, biên lãi thuần, gọi là NIM, có thể chịu sức ép.
Chiều ngược lại cũng có thể xảy ra khi tài sản được tái định giá nhanh hơn hoặc cơ cấu cho vay thay đổi. Vì vậy, chỉ nhìn một bảng lãi suất tiền gửi chưa đủ kết luận lợi nhuận ngân hàng sẽ tăng hay giảm. Cần đọc cả tốc độ điều chỉnh hai phía và quy mô tài sản sinh lãi.
Tại MBB, tài liệu nhà đầu tư ghi lợi tức tài sản tăng từ 7,0% trong Q1 lên 7,4% trong Q2/2026, chi phí vốn từ 3,5% lên 3,8%, trong khi NIM ở mức 3,9% trong cả hai quý. Các tỷ lệ có mẫu số khác nhau; không lấy 7,4% trừ 3,8% để tính lại NIM. Nguồn: tài liệu MBB, trang PDF 14.
TCB công bố NIM quý tăng từ 3,1% lên 3,4%, đồng thời nêu các yếu tố về tái định giá, cơ cấu tài sản và việc kết thúc một tác động bất thường. Đây là phần giải thích của ngân hàng. Không nên gán toàn bộ cải thiện cho một biến lãi suất hoặc so trực tiếp NIM hai ngân hàng khi chưa chuẩn hóa cách tính. Nguồn: thông cáo TCB, trang 2–3.
Lãi suất còn đi qua khả năng trả nợ của khách hàng và chi phí dự phòng. Một ngân hàng giữ được NIM vẫn có thể giảm lợi nhuận nếu nợ có vấn đề tăng. Ngược lại, thu nhập ngoài lãi và kiểm soát chi phí có thể bù một phần sức ép lên biên lãi.
MBB và TCB: lợi nhuận tăng đến từ đâu?
Bảng số liệu
Lợi nhuận hợp nhất 6T/2026
Số tiền: tỷ đồng; EPS: đồng/cổ phiếu. Tăng trưởng so với 6T/2025.
| Chỉ tiêu | MBB 6T/2026 | MBB tăng trưởng | TCB 6T/2026 | TCB tăng trưởng |
|---|---|---|---|---|
| Thu nhập lãi thuần (NII) | 31.806,8 | 32,2% | 20.285,1 | 16,3% |
| Lợi nhuận trước thuế | 20.188,3 | 27,1% | 18.540,0 | 22,5% |
| NPATMI | 15.744,6 | 26,5% | 14.021,1 | 15,0% |
| EPS cơ bản sáu tháng | 1.955 | 26,5% | 1.979 | 14,3% |
Thu nhập lãi thuần (NII)
MBB 6T/2026
31.806,8
MBB tăng trưởng
32,2%
TCB 6T/2026
20.285,1
TCB tăng trưởng
16,3%
Lợi nhuận trước thuế
MBB 6T/2026
20.188,3
MBB tăng trưởng
27,1%
TCB 6T/2026
18.540,0
TCB tăng trưởng
22,5%
NPATMI
MBB 6T/2026
15.744,6
MBB tăng trưởng
26,5%
TCB 6T/2026
14.021,1
TCB tăng trưởng
15,0%
EPS cơ bản sáu tháng
MBB 6T/2026
1.955
MBB tăng trưởng
26,5%
TCB 6T/2026
1.979
TCB tăng trưởng
14,3%
EPS MBB kỳ so sánh 1.545 đồng được trình bày lại trong BCTC 6T/2026. EPS TCB kỳ so sánh là 1.731 đồng. Không dùng EPS sáu tháng thay EPS năm.
Nguồn: BCTC hợp nhất 6T/2026 MBB (PDF 13), TCB (PDF 11); tăng trưởng do ATC tính từ số gốc.
BCTC MBB, trang PDF 13 và BCTC TCB, trang PDF 11 là nguồn của bảng. NPATMI là lợi nhuận sau thuế thuộc cổ đông ngân hàng mẹ; EPS là lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu. EPS ở đây là của sáu tháng, không phải EPS cả năm hoặc bốn quý gần nhất.
MBB tăng lợi nhuận trước thuế khoảng 4.299 tỷ đồng. Phép nối số kế toán cho thấy NII tăng 7.742 tỷ, nhưng thu nhập ngoài lãi thuần giảm 2.446 tỷ và chi phí hoạt động tăng 1.068 tỷ; dự phòng giảm đóng góp thêm khoảng 71 tỷ. Nguồn tăng trưởng nổi bật là thu nhập lãi thuần, với một phần bị bù trừ ở các khoản khác.
TCB tăng lợi nhuận trước thuế khoảng 3.405 tỷ đồng. NII tăng 2.843 tỷ, thu nhập ngoài lãi thuần tăng 1.419 tỷ, chi phí hoạt động tăng 1.374 tỷ và dự phòng giảm khoảng 517 tỷ. Tăng trưởng có nhiều nguồn hơn, nhưng phần hỗ trợ từ dự phòng thấp hơn cũng cần được kiểm tra trong các kỳ sau.
Thu nhập ngoài lãi thuần trong phép nối trên được tính bằng tổng thu nhập hoạt động trừ NII. Đây là cách phân rã chênh lệch kế toán, chưa chứng minh lãi suất gây ra từng khoản thay đổi. Số hiển thị làm tròn đến tỷ đồng nên cộng các ô có thể lệch nhẹ.
Từ lợi nhuận trước thuế phải trừ thuế, rồi tách phần thuộc cổ đông không kiểm soát, mới tới NPATMI. TCB tăng lợi nhuận trước thuế 22,5% nhưng NPATMI tăng khoảng 15,0%; không thể lấy tốc độ trước thuế làm tốc độ lợi ích của cổ đông ngân hàng mẹ.
Lợi nhuận toàn ngân hàng và lợi ích mỗi cổ phần
EPS MBB được công bố ở mức 1.955 đồng, so với 1.545 đồng của kỳ so sánh đã trình bày lại. Cần giữ đúng cột so sánh này, thay vì ghép với một EPS cũ trước điều chỉnh. EPS TCB tăng từ 1.731 lên 1.979 đồng, tương đương khoảng 14,3%, khác mức tăng NPATMI 15,0%.
EPS dùng số cổ phiếu bình quân theo quy định kế toán. BVPS, tức giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu, cần số cổ phiếu phù hợp với thời điểm vốn chủ sở hữu. Hai mẫu số không thay thế cho nhau. Khi số cổ phiếu tăng, lợi nhuận toàn ngân hàng có thể đi lên nhanh hơn phần lợi nhuận phân bổ cho mỗi cổ phiếu.
Cổ tức cổ phiếu làm tăng số cổ phiếu và chuyển cơ cấu các khoản trong vốn chủ sở hữu; tự nó không tạo thêm tài sản cho cổ đông. Phát hành thu tiền bổ sung vốn nhưng cũng bổ sung cổ phiếu. Cổ tức tiền mặt cần đọc cùng thời điểm ghi giảm vốn, tránh trừ hai lần khi tính BVPS.
Giá đang trả cho tăng trưởng nào?
Để đối chiếu định giá, bài dùng P/B tham chiếu: giá đóng cửa chưa điều chỉnh chia cho BVPS theo BCTC đã công khai, có điều chỉnh sự kiện vốn xác nhận được. Giá và vốn có ngày khác nhau; đây không phải sổ sách cập nhật từng ngày và không bao gồm lợi nhuận chưa công bố.
Bảng số liệu
Giá và P/B tham chiếu: phần đã đối chiếu
Giá, BVPS: đồng/cổ phiếu. P/B: lần. Mỗi dòng ghi riêng ngày giá.
| Mã / ngày giá | Giá đóng cửa | BVPS tham chiếu | P/B tham chiếu |
|---|---|---|---|
| TCB · 18/09/2025 | 38.800 | ≈ 22.272 | ≈ 1,74 |
| TCB · 18/09/2026 | 31.600 | ≈ 25.283 | ≈ 1,25 |
| MBB · 18/09/2026 | 19.900 | Chưa chốt sau sự kiện vốn | Chưa kết luận |
TCB · 18/09/2025
Giá đóng cửa
38.800
BVPS tham chiếu
≈ 22.272
P/B tham chiếu
≈ 1,74
TCB · 18/09/2026
Giá đóng cửa
31.600
BVPS tham chiếu
≈ 25.283
P/B tham chiếu
≈ 1,25
MBB · 18/09/2026
Giá đóng cửa
19.900
BVPS tham chiếu
Chưa chốt sau sự kiện vốn
P/B tham chiếu
Chưa kết luận
TCB: vốn thuộc cổ đông mẹ ngày 30/06 từng năm. Mốc 2025 cộng tiền ESOP trước chi phí và dùng số cổ phiếu sau ESOP. Không cộng lợi nhuận chưa công bố. MBB thiếu đối chiếu kết quả quyền mua nên không tính P/B. Đây không phải bảng hiệu suất đầu tư.
Nguồn: Giá: Pinetree 18/09/2025, Stockbiz 18/09/2026. Vốn: BCTC TCB, báo cáo ESOP và VSDC; ATC tính toán.
Giá năm 2025 lấy từ bản tin Pinetree ngày 18/09/2025; giá năm 2026 từ lịch sử giao dịch TCB và MBB. Không dùng chênh lệch hai giá chưa điều chỉnh để gọi là hiệu suất đầu tư một năm.
TCB: P/B tham chiếu thấp hơn, chưa đủ để kết luận rẻ
Vốn thuộc cổ đông ngân hàng mẹ tại 30/06/2025 là 157.614,010 tỷ đồng, bằng tổng vốn chủ sở hữu trừ lợi ích cổ đông không kiểm soát. Sau đó TCB hoàn tất phát hành 21.388.675 cổ phiếu ESOP giá 10.000 đồng, đưa số cổ phiếu lên 7.086.240.414. Phép tính tham chiếu cộng 213,887 tỷ đồng tiền phát hành trước chi phí; BVPS khoảng 22.272 đồng. BCTC 6T/2025, trang PDF 9 và 64; kết quả ESOP, trang 2.
Tại 30/06/2026, vốn thuộc cổ đông ngân hàng mẹ là 179.162,267 tỷ đồng; số cổ phiếu là 7.086.240.414, tương ứng BVPS khoảng 25.283 đồng. Số cổ phiếu này cũng khớp hồ sơ đăng ký TCB tại VSDC được đối chiếu ngày 20/09/2026. BCTC Q2/2026, trang PDF 6 và 60; hồ sơ VSDC.
Theo cách tính này, P/B tham chiếu giảm từ khoảng 1,74 xuống 1,25 lần. Đây là quan sát có cơ sở cho TCB, chưa phải kết luận chung cho MBB hay cả ngành. Phép tính không cộng lợi nhuận từ tháng 7 tới ngày giá, không ước tính các biến động vốn chưa xác nhận và không phải P/B do nhà cung cấp dữ liệu công bố.
MBB: phải làm rõ vốn sau quyền mua
MBB đóng cửa ở 19.900 đồng ngày 18/09/2026. Trong tháng 8, ngân hàng chốt quyền cổ tức cổ phiếu 15% và quyền mua tỷ lệ 10:1, giá phát hành 10.000 đồng. VSDC sau đó ghi nhận tổng số cổ phiếu đăng ký 9.263.249.895 từ đợt cổ tức cổ phiếu. Hồ sơ đăng ký này không tự chứng minh kết quả thu tiền của đợt quyền mua. Thông báo quyền; đăng ký bổ sung.
Bài chưa chốt P/B MBB vì chưa đối chiếu đủ kết quả phát hành thu tiền với vốn và số cổ phiếu sau các sự kiện. Ghép giá sau quyền với BVPS trước quyền có thể làm bội số trông thấp đi một cách cơ học. Đây là lý do nên chờ hoàn tất phép đối chiếu, dù tăng trưởng lợi nhuận bán niên đã được xác nhận.
P/B thấp hơn có thể phản ánh yêu cầu lợi suất cao hơn
Khi lãi suất hoặc rủi ro tăng, nhà đầu tư có thể đòi hỏi lợi suất cao hơn để nắm giữ cổ phiếu. Bội số hợp lý vì vậy có thể giảm ngay cả khi lợi nhuận hiện tại tăng. Một mức P/B thấp hơn chỉ đáng chú ý khi khả năng sinh lời trên vốn, tức ROE, và chất lượng tài sản hỗ trợ được triển vọng tương ứng.
Bài chưa xếp hạng ROE hai ngân hàng vì chưa chuẩn hóa lợi nhuận bốn quý với vốn thuộc cổ đông mẹ bình quân. Cũng chưa có cơ sở gọi P/B là “thấp nhất lịch sử”. Người đọc có thể dùng công cụ P/E–P/B để thử giả định, nhưng bội số nhập vào vẫn cần căn cứ.
Điều gì cần xác nhận trong các báo cáo tới?
Kịch bản thuận lợi là thu nhập lãi đủ bù chi phí vốn, tăng trưởng tín dụng đi cùng khả năng thu nợ và lợi nhuận mỗi cổ phần tiếp tục cải thiện. NIM không nhất thiết tăng ở mọi quý; cần xem cả quy mô, thu nhập ngoài lãi và dự phòng.
Kịch bản cần chờ là lợi nhuận còn tăng nhưng dựa nhiều hơn vào dự phòng thấp hoặc khoản thu khó lặp lại, trong khi vốn mới chưa chứng minh hiệu quả. Khi đó, nên đọc thêm nợ nhóm 2, nợ xấu, mức bao phủ và chi phí tín dụng trên cùng phạm vi hợp nhất, thay vì chỉ xem một tỷ lệ tại cuối kỳ.
Kịch bản cần đánh giá lại là chi phí vốn tăng kéo dài, khả năng trả nợ suy yếu hoặc lợi nhuận trên mỗi cổ phần hụt xa giả định. Dự phòng tăng có thể là biểu hiện thận trọng, nhưng cũng có thể cho thấy rủi ro đã phát sinh; phải đối chiếu nguyên nhân trong thuyết minh.
Mốc rà soát tiếp theo là khi BCTC Q3/2026 và kết quả các đợt phát hành được công bố, sau đó là BCTC năm 2026. Mỗi lần cần cập nhật đồng thời ngày giá, cơ sở vốn, EPS và dữ kiện rủi ro. Không giữ nguyên kết luận chỉ vì giá đã giảm thêm.
Khi nào cân nhắc tích lũy, khi nào chờ?
Có thể cân nhắc giải ngân từng phần khi đã hiểu nguồn lợi nhuận, xử lý được biến động vốn và thấy mức giá phù hợp với một kịch bản thận trọng. Nếu chưa xác định được BVPS sau sự kiện vốn hoặc chất lượng tăng trưởng, chờ thêm dữ kiện là một lựa chọn hợp lý. Cách bố trí dòng tiền, tỷ trọng và điều kiện dừng được trình bày trong khung tích sản ngân hàng.
Với dữ liệu hiện có, TCB có P/B tham chiếu thấp hơn mốc một năm trước; MBB cần hoàn tất đối chiếu vốn trước khi đưa ra kết luận tương tự. Cả hai đều tăng lợi nhuận thuộc cổ đông trong sáu tháng đầu năm. Quyết định tiếp theo cần dựa vào độ bền của lợi nhuận và mức giá đang trả, không chỉ vào câu chuyện lãi suất hoặc màu đỏ trên bảng điện.
Bài phục vụ nghiên cứu doanh nghiệp, không ấn định giá mua, tỷ trọng hoặc cam kết lợi suất cho từng người đọc.
Đọc tiếp
