LLR là gì? Tỷ lệ bao phủ nợ xấu và cách đọc
Phân tích
Người viết: Tùng ATC
Cập nhật 16/10/2026
LLR cho biết số dư dự phòng cho vay lớn đến đâu so với dư nợ xấu, khi hai số được đo cùng phạm vi. Tỷ lệ này không phải lượng tiền mặt để dành và không đủ để kết luận ngân hàng an toàn; cần đọc cùng diễn biến nợ xấu.
LLR (%) = Số dư dự phòng cho vay khách hàng / Dư nợ xấu cho vay khách hàng cùng phạm vi × 100%
Mục lụcTrong bài này
LLR đo điều gì?
LLR so số dư dự phòng rủi ro cho vay khách hàng với dư nợ xấu cho vay khách hàng tại cùng ngày và cùng phạm vi. Cần nêu tử số gồm dự phòng chung, dự phòng cụ thể hay một phạm vi khác. Nếu gồm dự phòng cho khoản vay ngoài nhóm 3–5, không hiểu toàn bộ tử số là khoản dành riêng cho đúng nợ xấu ở mẫu số.
Trong ngữ cảnh bài này, LLR được dùng cho tỷ lệ bao phủ nợ xấu, tức tỷ lệ dự phòng trên nợ xấu. “Loan loss reserve” là số dư dự phòng; cần đọc ngữ cảnh hoặc công thức để biết nguồn đang nói về số dư hay tỷ lệ. Chỉ chữ LLR hoặc “LLR ratio” chưa xác định được mẫu số.
Cách tính tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR)
Lấy hai số dư tại cùng ngày và cùng phạm vi báo cáo. Không dùng chi phí dự phòng trong kỳ thay cho số dư dự phòng cuối kỳ.
- Xác định dư nợ xấu nhóm 3–5 trong bảng phân loại nợ cho vay và phạm vi của số đó.
- Lấy số dư dự phòng cho vay tương ứng từ thuyết minh. Ghi rõ gồm dự phòng chung, dự phòng cụ thể và khoản nào được loại trừ; không mặc định mọi nguồn tính giống nhau.
- Chia số dư dự phòng cho dư nợ xấu, rồi nhân 100%. Giữ cùng đơn vị, dùng số gốc trước làm tròn và dẫn tới báo cáo đã sử dụng.
Nếu nợ xấu bằng 0, phép chia không xác định; nếu thiếu một đầu vào, ghi chưa đủ dữ liệu. LLR là tỷ lệ số dư tại ngày chốt, không năm hóa.
Số dư dự phòng là khoản kế toán tại ngày báo cáo. Chi phí trích lập hoặc hoàn nhập đi qua kết quả của kỳ. Sử dụng dự phòng để xử lý nợ làm biến động số dư; không đồng nghĩa phát sinh thu hồi tiền. Không gọi dự phòng là tiền mặt được khóa để chắc chắn bù mọi tổn thất.
LLR trên 100% nghĩa là tử số lớn hơn mẫu số theo cách đo đã chọn, không phải bảo đảm ngân hàng an toàn.
Ví dụ tính LLR từ BCTC BIDV
Tại ngày 30/06/2026, BCTC hợp nhất đã soát xét của BIDV ghi nhận các đầu vào dưới đây. Ví dụ dùng tổng dự phòng cho vay, gồm dự phòng chung và dự phòng cụ thể, chia cho nợ xấu cho vay cùng ngày. Đây là số liệu lịch sử để minh họa cách tính.
Bảng số liệu
Đầu vào tính LLR BIDV tại 30/06/2026 · Triệu đồng
| Đầu vào | Triệu đồng |
|---|---|
| Nợ dưới tiêu chuẩn | 12.003.167 |
| Nợ nghi ngờ | 7.293.693 |
| Nợ có khả năng mất vốn | 26.421.899 |
| Tổng nợ nhóm 3–5 | 45.718.759 |
| Dự phòng cụ thể | 16.169.122 |
| Dự phòng chung | 18.525.602 |
| Tổng dự phòng cho vay | 34.694.724 |
Nợ dưới tiêu chuẩn
- Triệu đồng
- 12.003.167
Nợ nghi ngờ
- Triệu đồng
- 7.293.693
Nợ có khả năng mất vốn
- Triệu đồng
- 26.421.899
Tổng nợ nhóm 3–5
- Triệu đồng
- 45.718.759
Dự phòng cụ thể
- Triệu đồng
- 16.169.122
Dự phòng chung
- Triệu đồng
- 18.525.602
Tổng dự phòng cho vay
- Triệu đồng
- 34.694.724
LLR = 34.694.724 / 45.718.759 × 100% = 75,89%.
Nếu chỉ dùng dự phòng cụ thể, phép chia cho cùng số nợ xấu cho kết quả 35,37%. Hai kết quả dùng tử số khác nhau; cần ghi rõ cách tính trước khi so sánh. Mức 75,89% cũng không có nghĩa ngân hàng chỉ có thể thu hồi 75,89% nợ xấu.
Đối chiếu diễn biến nợ và dự phòng BIDV
LLR khác NPL và chi phí dự phòng thế nào?
Tỷ lệ NPL cho biết phần dư nợ đã được phân loại là nợ xấu. LLR cho biết số dư dự phòng lớn đến đâu so với số nợ xấu đó. Hai tỷ lệ trả lời hai câu hỏi khác nhau.
Bảng số liệu
Phân biệt tỷ lệ, số dư tại ngày báo cáo và chi phí trong kỳ
| Chỉ tiêu | Cách tính hoặc bản chất | Đơn vị |
|---|---|---|
| Tỷ lệ nợ xấu — NPL ratio | Nợ nhóm 3–5 / dư nợ cho vay cùng phạm vi × 100% | % |
| Tỷ lệ bao phủ nợ xấu — LLR | Số dư dự phòng / nợ nhóm 3–5 cùng phạm vi × 100% | % |
| Số dư dự phòng | Khoản dự phòng còn ghi nhận tại ngày báo cáo | Đồng, triệu đồng hoặc tỷ đồng |
| Chi phí trích lập dự phòng | Khoản chi phí ghi nhận trong kỳ, có thể chịu ảnh hưởng của hoàn nhập | Đồng trong kỳ |
Tỷ lệ nợ xấu — NPL ratio
- Cách tính hoặc bản chất
- Nợ nhóm 3–5 / dư nợ cho vay cùng phạm vi × 100%
- Đơn vị
- %
Tỷ lệ bao phủ nợ xấu — LLR
- Cách tính hoặc bản chất
- Số dư dự phòng / nợ nhóm 3–5 cùng phạm vi × 100%
- Đơn vị
- %
Số dư dự phòng
- Cách tính hoặc bản chất
- Khoản dự phòng còn ghi nhận tại ngày báo cáo
- Đơn vị
- Đồng, triệu đồng hoặc tỷ đồng
Chi phí trích lập dự phòng
- Cách tính hoặc bản chất
- Khoản chi phí ghi nhận trong kỳ, có thể chịu ảnh hưởng của hoàn nhập
- Đơn vị
- Đồng trong kỳ
Khi một báo cáo ghi “NPL”, hãy xem nguồn đang nói về số tiền nợ xấu hay tỷ lệ nợ xấu. LLR dùng số tiền nợ xấu ở mẫu số; không lấy tỷ lệ NPL làm mẫu số và không thay số dư dự phòng bằng chi phí trích lập.
Chi phí tín dụng được tính thế nào?
Cách đọc LLR cao và thấp
LLR cao có thể cho thấy dự phòng kế toán lớn hơn so với nợ xấu theo cùng phương pháp. Khả năng hấp thụ tổn thất còn phụ thuộc chất lượng toàn bộ danh mục, nợ có thể chuyển xấu, tài sản bảo đảm và khả năng thu hồi; tỷ lệ này không bảo đảm lợi nhuận tương lai.
LLR thấp và LLR giảm là hai câu hỏi khác nhau. Mức thấp mô tả lượng dự phòng so với nợ xấu tại một thời điểm. Xu hướng giảm cho biết tỷ lệ này thay đổi ra sao qua thời gian. Để đánh giá rủi ro, tôi cần biết nợ xấu tăng, dự phòng giảm hay cả hai đang thay đổi.
LLR giảm chưa đủ để kết luận chất lượng tài sản xấu đi cùng mức ở mọi ngân hàng. Tuy nhiên, tôi sẽ thận trọng hơn nếu nợ xấu tăng nhanh hơn dự phòng, nợ cần chú ý tiếp tục tích tụ và khả năng tạo lợi nhuận để bổ sung dự phòng suy yếu. Chất lượng nguồn trả nợ và tiền thực thu là các bằng chứng cần kiểm tra tiếp.
Xem trường hợp VCB qua ba mốc báo cáo
Đối chiếu phạm vi trước khi so sánh ngân hàng
Đọc thuyết minh số dư và biến động dự phòng cùng bảng phân loại nợ. Khi hai nguồn dùng phạm vi dự phòng hoặc phạm vi riêng/hợp nhất khác nhau, không coi các tỷ lệ là cùng một chỉ tiêu. Bảng dữ liệu ngân hàng là đầu mối tra cứu; báo cáo gốc và phương pháp là cơ sở đối chiếu.
Bẫy thường gặp
LLR thay đổi khi tử số, mẫu số hoặc cả hai thay đổi. Dùng dự phòng xử lý nợ có thể làm tỷ lệ tăng hoặc giảm tùy tương quan số dư trước xử lý; không suy hướng thay đổi chỉ từ tên nghiệp vụ. Hai ví dụ dưới đây cho thấy cùng một dạng xử lý nợ có thể làm LLR tăng hoặc giảm khi tương quan số dư ban đầu khác nhau.
Cách dùng trong quy trình phân tích
Đọc biến động LLR cùng số dư NPL, nợ nhóm 2, chi phí dự phòng, xóa nợ và tăng trưởng tín dụng. Cần tách bộ đệm đã tích lũy trong quá khứ khỏi chi phí dự phòng sẽ tiếp tục ảnh hưởng lợi nhuận trong tương lai.
Vì sao LLR có thể tăng hoặc giảm sau khi xử lý nợ?
Ví dụ giả định, cùng phạm vi và đơn vị tỷ đồng: đầu kỳ có dự phòng 3 và nợ xấu 2, nên LLR = 150%. Giả sử ngân hàng dùng 1 dự phòng để xử lý 1 nợ xấu, không có biến động nào khác: dự phòng còn 2, nợ xấu còn 1, LLR tăng lên 200%.
Chiều thay đổi sẽ khác nếu số dư dự phòng ban đầu nhỏ hơn nợ xấu. Ví dụ giả định: dự phòng 1,5 tỷ đồng, nợ xấu 2 tỷ đồng, LLR là 75%. Nếu sử dụng 0,5 tỷ dự phòng để xử lý đúng 0,5 tỷ nợ xấu và không có biến động khác, dự phòng còn 1 tỷ, nợ xấu còn 1,5 tỷ, LLR giảm còn khoảng 66,67%.
Hai ví dụ đều giả định ngân hàng dùng dự phòng để xử lý một lượng nợ xấu tương ứng và không có biến động nào khác. Khi dự phòng ban đầu lớn hơn nợ xấu, phép xử lý này có thể làm LLR tăng; khi nhỏ hơn, LLR có thể giảm. Cả hai ví dụ đều chưa có thêm tiền khách hàng trả. Vì vậy, hướng thay đổi LLR cần được đọc cùng số dư dự phòng, nợ xấu phát sinh, nợ đã xử lý và tiền thu hồi. Đây là minh họa số học, chưa mô phỏng đầy đủ bút toán và quy định trích lập.
Đây là phép minh họa quan hệ giữa hai số dư, không mô phỏng toàn bộ bút toán xử lý nợ. Khi áp dụng vào ngân hàng thật, dùng bảng biến động dự phòng và phân loại nợ trong cùng BCTC, ghi rõ loại dự phòng đưa vào tử số.
Vì sao quan trọng · LLR giúp phân biệt hai ngân hàng có cùng NPL nhưng mức chuẩn bị dự phòng khác nhau; tuy nhiên chỉ số phải được đọc cùng chất lượng tài sản bảo đảm và chi phí tín dụng.
Góc nhìn Tùng ATC
Đọc LLR ngân hàng quốc doanh
Với ngân hàng quốc doanh, tôi đọc LLR cùng lịch sử trích lập và chất lượng danh mục cho vay của từng ngân hàng. Một mức bao phủ cao được duy trì qua nhiều kỳ là điểm tích cực khi đi cùng khách hàng có nguồn trả nợ rõ ràng và tài sản bảo đảm có khả năng thu hồi tốt.
Ba yếu tố cần được phân biệt:
- Dòng tiền của khách hàng giúp trả gốc và lãi đúng hạn.
- Tài sản bảo đảm hỗ trợ thu hồi khi khách hàng gặp khó khăn. Cần xét pháp lý, giá có thể bán và thời gian xử lý.
- Dự phòng giúp ngân hàng hấp thụ tổn thất tín dụng. Đây là khoản kế toán, không phải số tiền mặt được khóa riêng.
Khi thị trường bất động sản khó khăn, khách hàng phụ thuộc vào bán nhà, doanh thu dự án hoặc tiền cho thuê có thể thiếu tiền trả nợ. Đồng thời, tài sản thế chấp có thể giảm giá và khó bán hơn. Mức ảnh hưởng phụ thuộc danh mục thực tế của từng ngân hàng.
Vì sao tài sản thế chấp cần xét khả năng thu hồi
Ví dụ giả định, không phải dữ liệu của một ngân hàng cụ thể.
Khách hàng còn nợ gốc 2 tỷ đồng, thế chấp căn nhà từng được định giá 3 tỷ đồng. Nguồn trả nợ là thu nhập kinh doanh.
Giả sử kinh doanh khó khăn và khách hàng không thể tiếp tục trả nợ. Khi xử lý căn nhà, ngân hàng cuối cùng chỉ thu về 1,8 tỷ đồng sau chi phí. Chỉ xét nợ gốc, phần chưa thu hồi là 2 − 1,8 = 0,2 tỷ đồng, tương đương 200 triệu đồng. Phép tính này minh họa khoản gốc chưa thu hồi, chưa xác định số dự phòng phải trích.
Vì vậy, tôi đánh giá tài sản bảo đảm bằng khả năng chuyển thành tiền và thu hồi nợ thực tế. Giá định giá tại thời điểm cho vay cần được kiểm tra lại khi điều kiện thị trường thay đổi.
Vì sao LLR giảm dù số dư dự phòng tăng
Ví dụ giả định ở cấp toàn ngân hàng. Hai thời điểm dùng cùng phạm vi và cách tính. Ví dụ này độc lập với khoản vay 2 tỷ đồng ở trên.
| Chỉ tiêu | Thời điểm đầu | Sau khi rủi ro tăng |
|---|---|---|
| Số dư nợ xấu | 1.000 tỷ đồng | 1.500 tỷ đồng |
| Số dư dự phòng | 1.500 tỷ đồng | 1.800 tỷ đồng |
| LLR | 150% | 120% |
LLR được tính bằng số dư dự phòng chia số dư nợ xấu, nhân 100%. Số dư dự phòng tăng 20%, nhưng nợ xấu tăng 50%, khiến LLR giảm 30 điểm phần trăm.
Các số liệu này chỉ minh họa cách LLR biến động; chưa đủ để kết luận mức bao phủ đã phù hợp hay đáng lo.
VCB và chất lượng nguồn trả nợ
Với VCB, tôi đọc LLR cùng chất lượng nguồn trả nợ. Hai công bố tài trợ liên quan đến hệ sinh thái Hòa Phát (HPG) và Gemadept (GMD) giúp làm rõ cách tôi đặt câu hỏi về khả năng trả nợ từ hoạt động kinh doanh.
Ngày 17/03/2022, VCB công bố vai trò đầu mối thu xếp tín dụng đồng tài trợ cho dự án Dung Quất 2 của Công ty Cổ phần Thép Hòa Phát Dung Quất, thuộc Tập đoàn Hòa Phát (Vietcombank, 17/03/2022).
Công bố ngày 23/10/2025 cũng nêu việc VCB tài trợ dự án cảng Gemalink trong hệ sinh thái Gemadept (Vietcombank, 23/10/2025). Các công bố này xác nhận quan hệ tài trợ ở thời điểm được nêu; khả năng trả nợ hiện tại cần được kiểm tra thêm.
Điều tôi quan tâm là tiền tạo ra từ kinh doanh có đáp ứng nhu cầu vận hành, đầu tư và lịch trả gốc, lãi của đúng bên vay hay không. Lợi nhuận tốt vẫn cần được đối chiếu với khả năng thu tiền thực tế. Dòng tiền hợp nhất của tập đoàn không thay thế cho nguồn trả nợ của pháp nhân vay.
Nếu LLR giảm, tôi sẽ kiểm tra nguyên nhân và chất lượng danh mục trước khi thay đổi đánh giá. Tôi bớt lo hơn khi khả năng trả nợ được duy trì, nợ xấu mới được kiểm soát và ngân hàng còn khả năng bổ sung dự phòng. Hai ví dụ HPG–GMD chưa đại diện cho toàn bộ danh mục VCB; tôi vẫn cần xem mức độ tập trung tín dụng và diễn biến nợ xấu của cả ngân hàng.
Với số liệu cho vay khách hàng của VCB, cần tách quý I và quý II/2026 trước khi nói “LLR giảm”; diễn biến từng quý và phạm vi tính được trình bày trong hồ sơ VCB.
Tôi sẽ thận trọng hơn khi dòng tiền người vay suy yếu, nghĩa vụ nợ tăng hoặc nợ xấu phát sinh nhanh hơn khả năng bổ sung dự phòng. Tỷ lệ sở hữu Nhà nước cũng chưa chứng minh người vay có đủ tiền trả nợ.
Khung đọc LLR cùng chất lượng tài sản và định giá ngân hàng, không phải khuyến nghị mua hoặc bán.
Đọc tiếp trong hệ thống nghiên cứu
Câu hỏi thường gặp
Tỷ lệ bao phủ nợ xấu bao nhiêu là tốt?
Không có một mức LLR duy nhất đủ để kết luận ngân hàng tốt hoặc cổ phiếu đáng mua. Mức 100% nghĩa là số dư dự phòng bằng dư nợ xấu theo phạm vi đã chọn; trên 100% nghĩa tử số lớn hơn mẫu số, không bảo đảm ngân hàng hoàn toàn an toàn. Cần đọc cùng nợ nhóm 2, nợ xấu mới phát sinh, khả năng thu hồi, tài sản bảo đảm, rủi ro ngoài bảng, chi phí tín dụng và xu hướng qua nhiều kỳ. Hai tỷ lệ khác phạm vi không nên được xếp hạng chỉ vì một số cao hơn.
Vì sao LLR có thể giảm dù lợi nhuận vẫn tăng?
Lợi nhuận là kết quả trong kỳ, còn LLR so hai số dư tại ngày báo cáo. Lợi nhuận có thể tăng nhờ thu nhập hoặc chi phí khác trong khi nợ xấu tăng nhanh hơn số dư dự phòng, làm LLR giảm. Cần đối chiếu nguồn tăng lợi nhuận, chi phí trích lập, sử dụng dự phòng và nợ xấu; không lấy lợi nhuận tăng làm bằng chứng duy nhất rằng rủi ro tín dụng đã giảm.
LLR nên đọc cùng NPL thế nào?
Tỷ lệ NPL cho biết nợ nhóm 3–5 chiếm bao nhiêu trong dư nợ cho vay; LLR so số dư dự phòng với số tiền nợ nhóm 3–5. Cần đọc cả số dư và tỷ lệ: NPL ratio có thể giảm do dư nợ tăng nhanh, còn LLR có thể thay đổi do dự phòng hoặc nợ xấu. Khi so sánh ngân hàng, phải kiểm tra cùng ngày, cùng phạm vi và cách tính.
Nguồn và phạm vi dữ liệu
- Bảng dữ liệu 14 ngân hàng Q2/2026
Bộ số liệu hợp nhất đã chuẩn hóa về cùng ngày 30/06/2026 và nêu rõ các trường hợp khác phạm vi.
- Hub phân tích ngành ngân hàng
Đặt chỉ số trong bối cảnh lợi nhuận, chất lượng tài sản và định giá ngành.
- BIDV: BCTC hợp nhất bán niên 2026 đã soát xét
Thuyết minh 7–8; PDF trang 36–37, trang in 32–33. Đơn vị triệu đồng; ngày số liệu 30/06/2026. Bản công bố lưu trên 24HMoney.
Học bổ sung
Học thêm về kỷ luật phân bổ vốn
Đánh dấu thuật ngữ này đã đọc và học tiếp bài “Xuống tiền trước khi có luận điểm”.
Lưu tiến độ và học bài tiếp theoTiến độ thuật ngữ được lưu trên thiết bị này. Bài học có cơ chế lưu tiến độ riêng.